LUẬT CỜ CHỮ VIỆT

Chương 1:

CÁC LUẬT CƠ BẢN

Điều 1: MỤC ĐÍCH CỦA MỘT VÁN CỜ

Ván cờ được tiến hành giữa hai đấu thủ, một người cầm quân Doanh nhân Chủ động (gọi tắt là bên Chủ động), một người cầm quân Doanh nhân Thụ động (gọi tắt là bên Thụ động). Mục đích của mỗi đấu thủ là tìm mọi cách di chuyển quân Doanh nhân tới các Tổ hợp Thành công để phóng tên lửa ăn quân theo theo đúng luật sao cho ăn được nhiều quân nhất trên bàn cờ, bên nào ăn được nhiều sẽ giành thắng lợi.

Điều 2: BÀN CỜ VÀ QUÂN CỜ 

2.1 Bàn cờ:

Bàn cờ được tạo bởi một khung 8×8 bao gồm 64 ô vuông bằng nhau tạo thành 8 cột theo chiều dọc có đánh số từ a đến i, và 8 hàng theo chiều ngang có đánh số từ 1 đến 8. Mỗi ô vuông sẽ có tọa độ đọc theo tên cột và hàng, ví dụ: ô a1, ô i8. Các ô e1 và d8 có in hình biểu tượng ông Hội nhập, là vị trí xuất phát đặt quân Doanh nhân của mỗi bên đầu mỗi ván chơi. Ở giữa bàn cờ là đường chữ S-Bánh xe Hạnh phúc cuộc đời, bao gồm các ô d1, d2, e3, e4, d5, d6, e7 và e8 đều có in hình Bánh xe Hạnh phúc cuộc đời. Một khung vuông 6×6 ô ở chính giữa bàn cờ có đường viền màu tím bao gồm 36 ô vuông bằng nhau xen kẽ các màu sáng (ô trắng) và màu tối (ô vàng) như hình vẽ. 4 góc khung hình vuông màu tím là 4 ô có in hình Vòng tròn Thành công có tọa độ lần lượt là b2, b7, h7 và h2. Bàn cờ được đặt giữa hai đấu thủ sao cho ô có biểu tượng ông Hội nhập ở phía gần với các đấu thủ. 

2.2. Quân cờ:

Mỗi ván cờ lúc bắt đầu phải có đủ 32 quân, gồm 5 nhóm quân như sau:

Nhóm quân Doanh nhân: gồm 2 quân Doanh nhân Chủ động và Doanh nhân Thụ động, nhận biết bởi VIỀN MÀU TÍM và có in hình tên lửa, còn gọi là 2 quân cái hoặc 2 quân Tên lửa

Nhóm quân đầu người tài: gồm 30 quân, chia thành 4 nhóm của 4 yếu tố thành công, nhận biết bởi 4 màu viền quân cờ khác nhau. 

Nhóm quân có VIỀN XANH LỤC là nhóm TƯ DUY ĐÚNG, có 7 quân, bao gồm 1 trưởng nhóm có in hình biểu tượng còn gọi là quân Biểu tượng và 6 quân in chữ còn gọi là quân Chữ. 

Nhóm quân có VIỀN DA TRỜI là nhóm PHƯƠNG PHÁP HAY, có 9 quân, bao gồm 1 trưởng nhóm có in hình biểu tượng còn gọi là quân Biểu tượng và 8 quân in chữ còn gọi là quân Chữ. 

Nhóm quân có VIỀN MÀU ĐEN là nhóm HÀNH ĐỘNG THỰC, có 7 quân, bao gồm 1 trưởng nhóm có in hình biểu tượng còn gọi là quân Biểu tượng và 6 quân in chữ còn gọi là quân Chữ. 

Nhóm quân có VIỀN MÀU ĐỎ là nhóm KẾT QUẢ THÀNH CÔNG, có 7 quân, bao gồm 1 trưởng nhóm có in hình biểu tượng còn gọi là quân Biểu tượng và 6 quân in chữ còn gọi là quân Chữ. 

TÊN GỌI CÁC QUÂN CỜ: Tên các quân cờ là tên các TƯ DUY HỘI NHẬP in lên trên mặt các quân cờ, bao gồm tên nhóm in trên viền các quân cờ + tên rút gọn tư duy bằng chữ in trên mặt quân cờ. Tên viết tắt của chúng gồm các chữ cái đầu của tên gọi các tư duy. Ví dụ: quân TƯ DUY TRÂN QUÝ (viết tắt là TDTQ), PHƯƠNG PHÁP MỘT CHÚT (viết tắt là PPMC), HÀNH ĐỘNG ĐAM MÊ (viết tắt là HĐĐM), THÀNH CÔNG CÁC BÊN (viết tắt là TCCB), 2 quân cái là QUYẾT ĐỊNH DỪNG LẠI CHỦ ĐỘNG (viết tắt là QĐ DLCĐ) thường gọi là Doanh nhân Chủ động (viết tắt là DNCĐ) và QUYẾT ĐỊNH DỪNG LẠI THỤ ĐỘNG (viết tắt là QĐ DLTĐ) thường gọi là Doanh nhân Thụ động (viết tắt là DNTĐ)

Hệ thống 32 quân cờ với tên gọi, nội dung tên gọi, ký hiệu viết tắt và hình quân cờ

Điều 3: XẾP QUÂN KHI BẮT ĐẦU VÁN ĐẤU

Khi bắt đầu ván đấu, 2 bên xếp riêng 2 quân Doanh nhân để bắt thăm. 

Xếp riêng 4 quân Biểu tượng, úp xuống, xáo trộn và xếp ngẫu nhiên vào 4 góc khung hình vuông màu tím là 4 ô có in hình Vòng tròn Thành công có tọa độ lần lượt là b2, b7, h7 và h2. 

Úp 26 quân Chữ còn lại, xáo trộn và xếp ngẫu nhiên vào các ô vuông còn lại trong khung hình vuông màu tím sau khi loại bỏ 4 ô góc và các ô có in hình Bánh xe Hạnh phúc cuộc đời.

Lật hết các quân Chữ và quân Biểu tượng lên. 

Ví dụ minh họa về một thế trận khai cuộc: Thế MỎ VÀNG TÍCH TỤ

Điều 4: ĐI QUÂN

4.1. ĐẶT QUÂN DOANH NHÂN VÀO VỊ TRÍ XUẤT PHÁT

Các bên bắt thăm quân Doanh nhân.

Bên cầm quân Doanh nhân Chủ động bấm đồng hồ để tính thời gian cho bên Thụ động (nếu thi đấu có đồng hồ bấm giờ). 

Bên cầm quân Doanh nhân Thụ động quan sát bàn cờ và chọn vị trí xuất phát đặt quân Doanh nhân Thụ động, là một trong 2 ô có in hình ông Hội nhập. Sau khi đặt xong quân Doanh nhân Thụ động thì bấm đồng hồ tính thời gian cho bên Chủ động. 

Bên Chủ động đặt quân Doanh nhân Chủ động vào ô có in hình ông Hội nhập còn lại, là vị trí xuất phát để suy nghĩ thực hiện nước đi đầu tiên của mình. Sau khi bên Chủ động thực hiện nước đi đầu tiên xong, bấm giờ tính thời gian cho bên Thụ động thực hiện nước đi. 

Các bên cứ lần lượt luân phiên thực hiện các nước đi theo luật khi đến lượt.

Khi ván chơi được tuyên bố là kết thúc, các bên cùng kiểm đếm số quân ăn được để phân thắng thua.

4.2. CÁC NƯỚC ĐI

Các nước đi khi đến lượt bao gồm:

  • các nước đi của quân Doanh nhân
  • nước đứng yên của quân Doanh nhân
  • nước phóng tên lửa ăn quân
  • nước đầu tư quân Chữ hoặc Biểu tượng

4.3. CÁCH ĐI TỪNG LOẠI QUÂN

a) Các quân đầu người tài: Các quân này không được di chuyển, chỉ đứng yên chờ quân Doanh nhân tới thiết lập TỔ HỢP THÀNH CÔNG (viết tắt là THTC), phóng tên lửa để ăn quân về.

THTC là một tổ hợp gồm 4 yếu tố thành công lấp kín Vòng tròn Thành công, thể hiện bởi việc có 4 quân cờ thuộc 4 nhóm yếu tố thành công (4 quân có 4 màu viền khác nhau) ĐỨNG THẲNG HÀNG GẦN NHAU theo phương NGANG, DỌC hoặc CHÉO. Đứng thẳng hàng gần nhau được hiểu là chúng đứng sát cạnh nhau hoặc giữa chúng là các ô trống. Nếu 4 quân có 4 màu viền khác nhau đứng sát liền kề nhau sẽ tạo thành một THTC chặt chẽ. Nếu giữa chúng có các ô trống thì sẽ tạo thành một THTC liên thông.

Một tổ hợp chỉ có từ 1 đến 3 yếu tố thành công khác nhau thể hiện bằng việc chỉ có từ 1 đến 3 quân cờ có các màu viên khác nhau đứng thẳng hàng gần nhau theo phương ngang, dọc hoặc chéo là một TỔ HỢP KHUYẾT THÀNH CÔNG (viết tắt là THKTC, nghĩa là Tổ hợp chưa Thành công). 

Một Tổ hợp Khuyết Thành công (THKTC) khi được đầu tư bổ sung thêm những yếu tố thành công còn thiếu sẽ trở thành một TCTC hoàn chỉnh, thể hiện bằng việc đầu tư thêm những quân Chữ, hay quân Biểu tượng còn thiếu vào ô phù hợp của THKTC, hoặc dùng chính quân Doanh nhân để trực tiếp tham gia vào THKTC bởi nó được phép thay thế cho bất kể yếu tố thành công nào còn thiếu, để tạo thành một THTC hoàn chỉnh. 

b) Quân Doanh nhân: 

Đến lượt đi, quân Doanh nhân có quyền lựa chọn các nước đi: đứng yên, di chuyển, đầu tư, phóng tên lửa ăn quân

NƯỚC ĐỨNG YÊN: 

Khi tới lượt đi, quân Doanh nhân có quyền lựa chọn đứng yên tại vị trí hiện tại, không di chuyển. Khi này, người chơi sẽ nói: “Tôi quyết định đứng yên ở ô xy” (xy là tọa độ ô)

NƯỚC DI CHUYỂN: 

Mỗi nước di chuyển, quân Doanh nhân được di chuyển ngang hoặc dọc, không hạn chế số bước đi nếu không có quân khác đứng cản đường. Trường hợp quân Doanh nhân đang nằm trên đường chữ S Bánh xe Hạnh phúc cuộc đời thì được phép di chuyển chéo một hay nhiều bước dọc theo đường này nếu không có quân khác cản đường. 

Người chơi sẽ nói: “Tôi di chuyển tới ô xy (tọa độ)” + thêm câu “theo đường chữ S-Bánh xe Hạnh phúc cuộc đời” nếu người chơi dùng đường này để di chuyển.

NƯỚC ĐẦU TƯ: 

Quân Doanh nhân có thể lựa chọn NƯỚC ĐẦU TƯ khi có trong tay các quân Chữ và quân Biểu tượng. Quân Biểu tượng được phép đầu tư vào ván chơi ở bất kỳ ô nào còn trống trên bàn cờ. Quân Chữ ngược lại chỉ được phép đầu tư vào ô còn trống nằm ở vị trí sát liền kề với quân cái trên đường nó có thể di chuyển được.

Thao tác và lời nói khi thực hiện nước đầu tư:

Nói: “Tôi đầu tư + tên quân đầu tư + vào ô xy (tọa độ ô đầu tư)”. Song hành với lời nói sẽ dùng tay cầm quân đầu tư đặt vào ô đầu tư.

HÌNH MINH HỌA

NƯỚC PHÓNG TÊN LỬA ĂN QUÂN: 

Khi quân Doanh nhân chiếm lĩnh ô bệ phóng đối với một Tổ hợp Thành công (viết tắt là THTC) và có ô bến đáp thì có thể thực hiện nước phóng tên lửa đáp xuống ô bến đáp và ăn THTC. 

Ô bệ phóng là ô tiếp cận được với THTC, nghĩa là ô nằm trên trục THTC và nằm gần THTC. Nằm gần  THTC được hiểu là không có nghĩa phải nằm sát cạnh hay trong THTC mà giữa ô bệ phóng và THTC có thể có những ô trống. Đối với THTC liên thông, ô bệ phóng cũng có thể là một ô trống nằm trong THTC.

Ô bến đáp là ô đáp đến của quân Doanh nhân sau khi rời khỏi ô bệ phóng trong quá trình phóng tên lửa thành công ăn quân. Ô bến đáp là ô trống gần nhất nằm trên trục của THTC, nằm ngoài THTC và đường phóng tên lửa thành công từ ô bệ phóng tới ô bến đáp không bị vướng chặn bởi quân Doanh nhân đối phương.

Khi có THTC, quân Doanh nhân đang nằm ở ô bệ phóng và có ô bến đáp, quân Doanh nhân có thể thực hiện nước phóng tên lửa thành công đáp xuống ô bến đáp và ăn các quân trong THTC. 

Các thao tác và lời nói khi phóng tên lửa ăn quân: 

Đầu tiên, người chơi xoay tên lửa ở quân cái theo hướng tới ô bến đáp và nói: “Tôi sẽ phóng tên lửa thành công đáp xuống ô xy (nói tọa độ và chỉ tay vào ô) ăn n (số quân sẽ ăn) quân (tay chỉ vào các quân sẽ ăn, bắt đầu từ quân xa ô bến đáp nhất, rồi lần lượt cho đến quân cuối cùng của THTC gần ô bến đáp nhất)”

Bên đối thủ kiểm tra và xác nhận bằng cách gật đầu đồng ý hoặc im lặng không có ý kiến báo nước phóng tên lửa bị lỗi trong vòng 1 giây.

Sau khi đối phương đã xác nhận nước phóng tên lửa, người chơi thực hiện nước phóng tên lửa bằng cách: Tay cầm vào quân Doanh nhân, nói: “Tôi phóng tên lửa thành công đáp xuống ô xy (tọa độ ô bến đáp) ăn n quân (số quân sẽ ăn)” như đã tuyên bố từ trước. Song hành với lời nói, tay di chuyển quân Doanh nhân tới vị trí ô bến đáp rồi lần lượt nhấc các quân ăn được ra, bắt đầu từ quân xa ô bến đáp nhất, rồi lần lượt cho đến quân cuối cùng của THTC gần ô bến đáp nhất. Khi nhấc quân cờ nào ra khỏi bàn cờ thì phải đọc tên quân cờ đó lên (xem tên quân cờ ở điều 2.2.).

Ví dụ minh họa ô bệ phóng, Tổ hợp Thành công và ô bến đáp

Hướng dẫn cách chơi cờ chữ Việt để luyện thành công

Điều 5: LỖI KỸ THUẬT

LỖI NƯỚC ĐI: Bên thực hiện nước đi, đầu tư, phóng tên lửa lỗi sẽ bị mất lượt đi. 

LỖI ĐỌC SAI TÊN QUÂN CỜ: Quân cờ nào khi ăn hoặc đầu tư bị đọc sai tên sẽ được tính là quân ăn được của đối thủ và chuyển cho bên đối thủ. Ví dụ: Đọc sai tên khi đầu tư thì quân đọc sai sẽ chuyển cho đối phương và người chơi mất lượt đi. Đọc sai tên khi ăn quân thì quân đọc sai được chuyển cho đối phương, nước ăn quân vẫn được thực hiện đối với các quân còn lại.

Điều 6. KẾT THÚC VÁN CHƠI

Một ván chơi được tuyên bố kết thúc trong các trường hợp:

  1. Khi hai bên đã ăn hết các quân cờ đầu người tài trên bàn cờ
  2. Khi 2 bên cùng thống nhất dừng ván chơi, do một bên đề xuất dừng ván chơi và bên kia chấp thuận đề xuất.
  3. Khi một bên tuyên bố muốn dừng ván chơi sau 6 nước đi không ăn quân. Ván chơi sẽ kết thúc sau khi bên tuyên bố đi đủ 6 nước mà không ăn thêm được quân nào, đồng thời bên kia đã cân bằng số nước đi với bên tuyên bố dừng chơi. Nếu trong quá trình đi 6 nước còn lại mà bên tuyên bố vẫn ăn thêm quân thì lời tuyên bố dừng chơi bị vô hiệu. Khi đó một tuyên bố dừng chơi MỚI có thể được TUYÊN BỐ LẠI nếu một bên vẫn muốn dừng cuộc chơi sau 6 nước đi không ăn quân. Khi đó người chơi sẽ nói: “Tôi sẽ dừng ván chơi sau 6 nước không ăn quân, nước” + số thứ tự + “không ăn quân”
  4. Khi mỗi bên cùng lặp lại một nước đi 3 lần
  5. Nếu thi đấu có tính thời gian, bên nào để hết thời gian trước sẽ bị xử thua

Nếu đấu hai hoặc nhiều ván thì bốc thăm quyết định người cầm quân Chủ động đi trước ván đầu, sau đó thay phiên nhau cầm quân Chủ động, Thụ động. Thi đấu theo hệ vòng tròn, mỗi ván căn cứ vào số (còn lại là mã số, ấn định cho mỗi đấu thủ trước khi bắt thăm) của đấu thủ trong bảng để xác định ai là người được đi trước.

?????

Thi đấu theo hệ Thụy Sĩ thì mỗi vòng đấu đều phải sắp xếp lại theo nhóm điểm, quân cái và bốc thăm theo quy định (xem chương VI)

Điều 7: THẮNG CỜ, HÒA CỜ VÀ THUA CỜ

7.1. Thắng cờ: Trong một ván cờ, đấu thủ thắng cờ nếu:

a) Ăn được nhiều quân hơn khi ván chơi kết thúc.

b) Đối thủ hết giờ khi thi đấu có quy định thời gian đối với mỗi kỳ thủ

c) Đối thủ lặp lại thêm 2 lần lỗi nước đi hoặc lỗi thao tác/lời nói đã mắc phải. 

d) Đối phương không đi đủ số nước quy định trong thời gian quy định.

e) Đối phương tới chậm quá thời gian quy định để bắt đầu ván đấu.

g) Đối phương lặp lại một nước đi 3 lần sẽ bị xử thua, trừ khi không còn nước đi nào khác nữa.

h) Đối phương phạm luật cấm, còn bên này không phạm luật, bên phạm luật không chịu thay đổi nước đi.

i) Khi mở niêm phong tiếp tục ván hoãn, nếu bên niêm phong ghi sai nước đi mà không giải thích được thì bị xử thua. Nếu đấu thủ có lượt đi ghi sai nước đi trong niêm phong nhưng đối phương bỏ cuộc thì cả hai đều bị xử thua.

k) Đối phương tự tuyên bố xin thua.

l) Đối phương vi phạm luật bị xử thua.

n) Đối phương mắc lỗi kỹ thuật 3 lần, mắc lỗi tác phong 3 lần.

7.2. Hòa cờ khi gặp các tình huống sau đây:

 a) Hai bên có số quân ăn được khi ván chơi kết thúc ngang nhau.

b) Hai bên đều không phạm luật cấm và đều không chịu thay đổi nước đi.

c) Hai bên cùng một lúc phạm cùng một điều luật cấm

d) Một bên đề nghị hòa, bên đối phương đồng ý thì ván cờ mặc nhiên được công nhận là hòa.

Chương 2:

TIẾN HÀNH VÁN CỜ

Điều 8: NƯỚC CỜ

Một nước cờ gồm một lượt đi của bên Chủ động và một lượt đi của bên Thụ động. Khi tiến hành ván cờ bên Chủ động đi trước, bên Thụ động chờ bên Chủ động đi xong mới đi, và cứ thế lần lượt cho tới hết ván. Không bên nào được đi liên tiếp hai lượt trở lên.

Điều 9: ĐI CỜ VÀ CHẠM QUÂN

ĐI QUÂN

a) Quân cờ phải được đặt đúng vị trí trên bàn cờ. Nếu đấu thủ xếp lại quân cờ cho ngay ngắn thì phải báo trước cho trọng tài hay đối phương “tôi sửa quân này” và chỉ được phép sửa quân khi đến lượt mình đi.

b) Đi quân rồi không được đi lại. Khi quân đã đặt tới một vị trí khác trên bàn cờ, thì dù chưa buông tay cũng không được thay đổi.

CHẠM QUÂN

Chạm quân có nghĩa là đụng vào quân cờ, vừa có nghĩa là cầm lấy quân cờ. Có hai trường hợp chạm quân:

a)   Chạm quân vô ý: do tay vô tình chạm quân, do khi đi quân ống tay áo chạm vào quân, do mất thăng bằng cơ thể mà đụng vào quân hay làm đổ quân…

b)  Chạm quân cố ý là cầm quân cái, có ý định đi quân đó nhưng khi nhấc quân đó lên đi thì đổi ý muốn đứng yên hoặc đầu tư, hoặc khi đã đặt quân vào vị trí mới rồi, lại muốn hoãn để đi nước khác…

Với trường hợp vô ý, trọng tài chủ yếu là nhắc nhở hoặc cảnh cáo.

Với trường hợp cố ý thì bắt lỗi theo các quy định cụ thể dưới đây:

  • Đấu thủ tới lượt đi, nếu chạm tay vào quân cái của mình thì phải đi quân đó. Nếu nước đi này bị luật cấm thì được đi nước khác, nhưng phạm lỗi kỹ thuật.
  • Động tác chạm lần đầu do vô ý, trọng tài nhắc nhở; nếu vô ý lần thứ hai, trọng tài cảnh cáo, nếu tái phạm lần thứ ba thì xử lý như chạm quân cố ý.
  • Đấu thủ cầm quân vô ý rơi giữa 2 điểm nào đó của bàn cờ thì trọng tài nhắc nhở, tái phạm bị xử một lỗi kỹ thuật.

CÁC THẾ CỜ KHÔNG HỢP LỆ::

  • a) Nếu trong ván đấu phát hiện vị trí ban đầu của các quân cờ bị xếp sai từ đầu ván cờ thì phải hủy bỏ ván đó và chơi lại ván mới.
  • b) Nếu hai đấu thủ đi nhầm màu quân theo luật định (như bên cầm quân Thụ động đáng lẽ đi sau thì lại đi trước) thì hủy bỏ ván cờ và chơi lại ván khác.
  • c) Nếu hai đấu thủ đi nhầm màu quân nhưng bên đi tiên vẫn đi trước (Bên tiên tuy cầm quân Thụ động nhưng vẫn đi trước) và diễn biến ván cờ không bị phạm luật thì giữ nguyên hiện trạng ván cờ, đổi lại màu quân để tiếp tục ván cờ bình thường.
  • d) Sau khi kết thúc ván cờ, hai bên ký vào biên bản và trọng tài xác nhận kết quả thì ván đánh đó có hiệu lực, không đánh lại, dù đã xảy ra các thế cờ không hợp lệ trên.
  • e) Bị nhầm mầu quân nhưng cả hai đấu thủ đã chơi xong ván cờ mới phát hiện ra, thì kết quả ván đấu vẫn được công nhận, không phải đánh lại ván cờ đó, nhưng đấu thủ đáng lẽ cầm quân Chủ động lại cầm nhầm quân Thụ động thì vẫn phải ghi là cầm quân Chủ động để đảm bảo cho việc bắt thăm màu quân vòng sau vẫn bình thường.

NƯỚC ĐI SAI, ĐẶT QUÂN SAI, ĂN QUÂN SAI

Nếu đang đánh mà:

a) Phát hiện một nước không hợp lệ hoặc

b) Quân cờ đi sang vị trí không đúng quy định thì thế cờ phải được khôi phục lại theo biên bản từ nước không hợp lệ (hay di chuyển sai). Trong quá trình khôi phục này phải dừng đồng hồ theo quyết định của trọng tài.

  • Nếu không xác định được sai từ nước đi nào thì diễn lại biên bản, tìm chỗ sai, đánh tiếp ván cờ.
  • Nếu đến lúc ván cờ kết thúc mới phát hiện nước sai lầm trên phải công nhận kết quả đang đánh.

TRỌNG TÀI CAN THIỆP và phân xử việc chạm quân khi một bên đề nghị với trọng tài.

  • a) Nếu có chạm quân nhưng không bên nào đề nghị thì ván đấu vẫn diễn ra bình thường, trọng tài không can thiệp.
  • b) Việc chạm quân phải được hoặc đối phương công nhận, hoặc trọng tài chứng kiến còn nếu chỉ có một bên tố cáo thì trọng tài cũng không xét để phạt đối phương.
  • c) Ngoài đối thủ và trọng tài thì bất cứ người nào khác (huấn luyện viên, lãnh đội, người thân của đấu thủ, khán giả…) can thiệp cũng không có giá trị.

Điều 10: THỜI GIAN VÁN ĐẤU

10.1. Điều lệ mỗi một giải đấu phải quy định rõ ràng và chi tiết cách tính thời gian của ván đấu để đảm bảo giải tiến hành phù hợp với tình hình thực tế. Luật cờ đưa ra một số cách tính thời gian thường được sử dụng để ban tổ chức từng giải lựa chọn:

10.1.1. Khi có sử dụng đồng hồ đánh cờ thì:

a) Đấu theo thể thức hai ván (lượt đi, lượt về) thì mỗi ván mỗi bên được 15 phút (cả 2 bên được 30 phút), không kiểm tra số nước đi.

b) Nếu chỉ đấu 1 ván thì mỗi bên được 20 phút (hai bên được 40 phút). Bên nào hết giờ trước bị xử thua (có hoặc không kiểm tra số nước đi).

c) Mỗi bên được 30 phút (hai bên được 60 phút) có kiểm tra số nước đi.

d) Thi đấu theo thể thức quốc tế: cứ 15 phút mỗi bên phải đi đủ 10 nước cho tới khi kết thúc ván cờ.

e) Giải cờ nhanh mỗi bên được 5 phút.

10.1.2. Các hình thức kiểm tra số nước đi từng ván như sau:

Thi đấu 1 ván, mỗi bên được 20 phút thì 15 phút đầu mỗi bên phải đi tối thiểu 10 nước, không đi đủ 10 nước bị xử thua. Sau đó mỗi bên còn 5 phút để kết thúc ván cờ. 

Với thể thức thi đấu quốc tế thì sau 15 phút phải đi đủ 10 nước, nếu đi không đủ số nước thì bị xử thua. Nếu không dùng hết thời gian hoặc số nước đi nhiều hơn quy định thì được cộng dồn để tính cho giai đoạn kiểm tra tiếp theo. Ví dụ: Trong 7 phút đã đi đủ 10 nước thì được sử dụng 8 phút dư để cộng với 15 phút của giai đoạn kế tiếp thành 23 phút chơi tiếp 10 nước nữa. Hoặc trong 15 phút đi được 14 nước thì cũng được tính 4 nước dư cho giai đoạn 10 nước tiếp theo.

10.1.3. Trong thời gian hạn định 15 phút phải đi đủ 10 nước, thì những nước lặp đi lặp lại chỉ được tính tối đa là 3 nước. 

10.2. Quy định về việc bấm đồng hồ:

10.2.1. Đi quân xong (tay đã rời khỏi quân) mới được bấm đồng hồ. Trường hợp phóng tên lửa ăn quân thì khi nào ăn và đọc xong tên quân cuối cùng ăn được mới được bấm đồng hồ. Việc xướng các khẩu lệnh ăn quân và tên các quân cờ phải to, rõ ràng. Nếu xướng không to, rõ ràng thì phải làm lại. Tay nào đi quân cờ, nhấc quân cờ thì phải dùng tay đó để bấm đồng hồ. Nếu đấu thủ quên bấm đồng hồ, thì trọng tài nhắc nhở. Đấu thủ nào quên không bấm đồng hồ sau khi đi quân xong thì tự chịu thiệt thòi về thời gian của mình.

a) Đến giờ thi đấu, nếu một hoặc cả hai đấu thủ đến chậm, trọng tài vẫn bấm đồng hồ chạy và tính thời gian quy định. Ai đến chậm quá thời gian do ban tổ chức quy định (5, 10 hay 15 phút theo quy định) thì bị tính thua ván cờ đó.

b) Đấu thủ bắt buộc phải có mặt tại giải cờ, nếu vắng mặt quá giờ quy định bị xử thua mà không được ủy quyền cho bất cứ người nào khác thay mặt mình xin hòa hay có những đề nghị khác. Ngoài đấu thủ, bất kỳ người nào khác cũng không được phép đưa ra những đề nghị này.

10.2.2. Nếu đấu thủ có ý kiến thắc mắc, khiếu nại thì phải sử dụng thời gian của mình và không được bấm dừng đồng hồ (trừ trường hợp trọng tài vắng mặt quá lâu và chỉ được bấm dừng đồng hồ theo những điều được luật cho phép, ví dụ như phát hiện đồng hồ bị hư hỏng…) Nếu có mặt trọng tài mà đấu thủ tự ý dừng đồng hồ sẽ bị cảnh cáo, nếu tái phạm thì bị ghi lỗi tác phong. Trong trường hợp cần thiết, trọng tài dừng đồng hồ để giải quyết.

10.2.3. Nếu phát hiện đồng hồ bị trục trặc (chạy sai, không chạy …) thì phải kịp thời báo cáo ngay cho trọng tài để sửa chữa hay thay đồng hồ khác.

10.2.4. Khi một đấu thủ ăn được nhiều quân nhưng đồng hồ đã báo hết giờ (rụng kim) thì đấu thủ đó vẫn bị tính là thua ván cờ do hết thời gian.

10.3. Quy định về hoãn đấu:

10.3.1. Mỗi ván đấu cố gắng kết thúc ngay tại nơi thi đấu. Nếu gặp trường hợp hết buổi mà ván cờ chưa kết thúc thì phải thực hiện niêm phong nước đi. Người đến lượt đi ghi một nước cờ kín vào biên bản và bỏ vào phong bì dán kín nộp cho trọng tài. Đấu thủ phải sử dụng thời gian của mình suy nghĩ nước kín, ghi xong nước kín mới bấm dừng đồng hồ.

10.3.2. Khi mở niêm phong nước kín lúc hoãn cờ mà nước đi không hợp lệ thì bị xử thua.

Điều 11: GHI BIÊN BẢN

11.1 Khi đặt xong 2 quân cái vào bàn cờ, trọng tài cần chụp lại bàn cờ với thế trận ngẫu nhiên ở thời điểm bắt đầu ván chơi. Trong quá trình diễn ra ván đấu mỗi đấu thủ phải tự ghi chép nước đi vào tờ biên bản được phát trước khi ván cờ bắt đầu. Mỗi đấu thủ phải ghi cả nước đi của mình và nước đi của đối phương. Đi nước nào phải ghi kịp thời nước đó. Nước đi phải được ghi chính xác và rõ ràng.

a) Trong trường hợp còn thời gian ít hơn 5 phút, đấu thủ được phép không ghi biên bản. Khi đó trọng tài giúp ghi biên bản cho đấu thủ tới khi ván đấu kết thúc. Khi ván đấu kết thúc, các đấu thủ phải ghi bổ sung các nước mình còn thiếu trong thời gian 5 phút đó để nộp đầy đủ biên bản cho trọng tài.

b) Quy trình hoàn thành biên bản được tiến hành như sau:

– Sau khi kết thúc ván đấu, biên bản phải được ghi hoàn chỉnh, mỗi đấu thủ tự ghi tổng số quân ăn được của mỗi bên vào biên bản của mình rồi đưa cho trọng tài.

– Trọng tài nhận biên bản, ghi phán quyết bên nào thắng, thua hay hòa rồi ký vào biên bản.

– Sau đó trọng tài đưa biên bản cho hai đấu thủ để cả hai ký tên vào biên bản của mình và của đối phương. Chỉ khi ký xong biên bản, đấu thủ mới được rời khỏi phòng thi đấu.

– Nếu phát hiện có sự nhầm lẫn, sai sót về quân số thì đấu thủ yêu cầu trọng tài sửa đổi hay giải thích. Nếu chưa đồng ý, được đề đạt ý kiến của mình lên tổng trọng trọng tài hay ban tổ chức để xử lý.

11.2. Cách ghi các ký hiệu của quân cờ được quy ước như sau:

Xem bảng ký hiệu viết tắt tên các quân cờ ở điều 2.

Cách ký hiệu ghi các nước đi:

Quân Doanh nhân đi vào ô nào thì ghi tọa độ XY cột hàng của ô đó (ví dụ: d8e8)

Nếu quân doanh nhân phóng tên lửa ăn quân thì ký hiệu hướng phóng: dọc “D”, ngang”N”, chéo “C”, sau đó ghi tọa độ dải tên lửa thành công gồm tọa độ ô đuôi và tọa độ ô bến đáp tên lửa trong ngoặc đơn, + dấu cách + số quân ăn được, rồi ghi lần lượt tên viết tắt các quân ăn được trong ngoặc đơn, cách nhau bởi dấu phẩy. (Ví dụ: D/N/C(e8e1) 3 (PPMT, TCDT, HĐVN))

Nếu là nước đầu tư thì ghi “+” và tên quân đầu tư + tọa độ ô đặt quân đầu tư trong ngoặc đơn. (ví dụ: +PPMT(e7)

Khi đứng nguyên không đi thì ghi “00” + tọa độ đang đứng trong ngoặc đơn : 00(e4)

Khi một bên tuyên bố quyết định dừng cuộc chơi muộn nhất sau 6 nước đi thì ghi dấu “#” + số đếm thứ tự nước đi của mình. (ví dụ: 00(e4) #1

Khi hai bên thống nhất dừng ván chơi thì mỗi bên ghi “##”

11.3. Nếu ván đấu có kiểm tra thời gian, do phải đi rất nhanh không thể ghi kịp tại thời điểm diễn ra nước đi thì phải ghi bổ sung ngay nước ghi thiếu vào thời gian tiếp theo.

a) Được phép mượn biên bản của đối thủ để bổ sung nước đi của mình, nhưng không được mượn liên tục để gây mất tập trung cho đối phương. Nếu đối phương phát hiện ý đồ này thì được thông báo cho trọng tài. Trọng tài xét thấy như thế thì sẽ ghi cho người mượn 1 lỗi tác phong.

b) Nếu một đấu thủ trong biên bản của mình không ghi 4 nước liên tục mà không chịu ghi bổ sung trong quá trình ván đấu thì bị xử một lỗi kỹ thuật. Nếu tái diễn 3 lần việc này trong một ván đấu thì bị xử thua ván cờ.

c) Để kiểm soát việc ghi biên bản đúng quy định trên, trọng tài được phép xem biên bản của đấu thủ.

Trong trường hợp vì lý do đặc biệt không thể ghi biên bản được do đấu thủ quá nhỏ, chưa biết chữ, người dân tộc không biết tiếng quốc ngữ, người mù chữ hay bị thương ở tay… thì phải báo cáo trước cho ban tổ chức để xác nhận và có biện pháp giải quyết thích hợp.

d) Biên bản thuộc quyền sở hữu của ban tổ chức, nên sau mỗi ván đấu trọng tài bàn phải nộp đầy đủ cho ban tổ chức. Đấu thủ nào muốn chép lại ván cờ của mình thì ngay sau khi ký biên bản xong có thể mượn lại của trọng tài để sao chép. Việc sao chép phải tiến hành ngay trong phòng thi đấu và không được đem ra ngoài. Sau khi sao chép xong phải đưa lại cho trọng tài để nộp cho ban tổ chức.

Điều 12: HẠN ĐỊNH SỐ NƯỚC ĐI TỚI HÒA CỜ

Trong quá trình tiến hành ván cờ mà một đấu thủ hoặc cả hai đấu thủ phát hiện trong 10 nước đi liên tiếp không bên nào thực hiện nước ăn quân thì có quyền đề nghị trọng tài xử hòa ván cờ. Trọng tài cho dừng đồng hồ và kiểm tra theo yêu cầu.

a)   Nếu đúng có 10 nước đi trở lên liên tục, kể từ bất cứ thời điểm nào của ván cờ thì ván cờ đó mặc nhiên được xử hòa dù cục thế ván cờ trên bàn cờ ra sao.

b)   Nếu trọng tài phát hiện ra chưa đủ 10 nước thì sẽ phạt người đề nghị bằng cách tăng thêm thời gian 2 phút cho đối phương rồi cho tiến hành tiếp ván cờ.

c)   Nếu sau đó một đấu thủ lại đề nghị, thì trọng tài lại dừng đồng hồ; nếu ván cờ tiếp diễn tình trạng không bên nào phóng tên lửa ăn quân thì sẽ cộng số nước không có ăn quân trước đó với số nước đã tiếp diễn để xác định có đủ 10 nước hay không để xử hòa hoặc cộng tiếp 2 phút cho đối phương. Những nước lặp đi lặp lại hợp lệ tính tối đa 3 nước.

Điều 13: KẾT THÚC VÁN CỜ

13.1. Khi ván cờ kết thúc, các đấu thủ ghi số quân ăn được của mỗi bên vào biên bản của mình, rồi cùng với trọng tài kiểm tra sự chính xác của biên bản bằng cách bày lại bàn cờ, đối chiếu với biên bản, kiểm tra từ nước đầu tới nước cuối. Sau đó trọng tài và hai đấu thủ ký biên bản xác nhận kết quả ván đấu.

13.2. Trước khi rời phòng thi đấu, các đấu thủ phải xếp úp ngẫu nhiên các quân cờ ngay ngắn ở vị trí ban đầu. Trọng tài phải nhanh chóng nộp biên bản cho ban tổ chức.

Chương 3:

ĐẤU THỦ, LÃNH ĐÔI, HUẤN LUYỆN VIÊN

Điều 14: QUY ĐỊNH CHUNG

Huấn luyện viên, lãnh đội là những người chịu trách nhiệm về chuyên môn và quản lý đội cờ của mình, phải nắm vững luật cờ chữ Việt, điều lệ và các quy định của giải.

Trong quá trình diễn ra ván đấu, huấn luyện viên, lãnh đội, đấu thủ phải được tôn trọng và được tạo điều kiện để hoàn thành chức trách của mình như: được cung cấp đầy đủ các văn bản về bốc thăm, về điểm số của các đấu thủ, biên bản các ván đấu, kết quả giải đấu, được dự các cuộc họp có liên quan tới công tác của mình, được tư vấn khi cần thiết…

Điều 15: TƯ CÁCH ĐẤU THỦ, HUẤN LUYỆN VIÊN VÀ LÃNH ĐỘI

15.1. Các đấu thủ là những người trực tiếp thi đấu với nhau nhằm đạt được những kết quả tốt nhất cũng như giành được những phần thưởng và những đẳng cấp do giải quy định phong tặng. Điều đó không chỉ đem lại uy tín và quyền lợi cho đấu thủ mà còn làm vẻ vang cho đơn vị tỉnh, thành và quốc gia mình. Vì vậy đấu thủ phải được tôn trọng xứng đáng và được tạo mọi điều kiện tốt nhất để thực hiện thi đấu thành công.

15.2. Tất cả những hành động, thái độ làm ảnh hưởng tới phong độ, uy tín, danh dự, sức khỏe và điều kiện thi đấu của đấu thủ đều bị nghiêm cấm.

15.3. Huấn luyện viên và lãnh đội là những người chịu trách nhiệm về chuyên môn, tổ chức và các công tác khác cho đội của mình, nên phải được tạo điều kiện và được cung cấp các thông tin đầy đủ, chính xác để tiến hành thuận tiện các công việc của mình.

Huấn luyện viên và lãnh đội phải làm gương tốt cho các đấu thủ trong đơn vị của mình.

15.4. Đấu thủ phải nắm vững các điều khoản của luật cờ chữ Việt, chương trình thi đấu, điều lệ mà Ban tổ chức giải đã ban hành.

15.5. Đấu thủ phải có tinh thần, đạo đức, tác phong của một vận động viên thể thao chân chính theo tinh thần “đoàn kết, trung thực, cao thượng”. Khi thua cờ phải biết nhận thua một cách đàng hoàng, không cay cú hay phản ứng. Biết tôn trọng ban tổ chức, trọng tài, đối thủ và khán giả.

Nghiêm cấm đấu thủ mua bán điểm, dàn xếp tỷ số và thực hiện các hành vi tiêu cực khác.

Khi thi đấu, đấu thủ phải ăn mặc đứng đắn, lời nói cử chỉ phải có văn hóa, lịch sự, phải giữ thái độ bình tĩnh trong những trường hợp có tranh chấp khiếu nại.

15.6. Nếu ban tổ chức hay trọng tài phát hiện được các hành vi sai trái, tiêu cực thì có quyền đình chỉ thi đấu và hủy bỏ điểm số đạt được đối với những đấu thủ vi phạm. Nếu sự việc nghiêm trọng thì ban tổ chức sẽ đề nghị Liên đoàn Cờ hoặc cơ sở truất quyền thi đấu từ 1 đến 3 năm.

15.7. Trong quá trình thi đấu, đấu thủ phải làm đúng các quy định dưới đây:

a) Trước khi bắt đầu ván cờ, đấu thủ phải tự kiểm tra vị trí các quân cờ, màu quân mà mình đi, đồng hồ, tờ ghi biên bản. Nếu phát hiện ra những gì thiếu hay không đúng phải báo cáo trọng tài để kịp thời bổ sung, sửa chữa.

b) Không được tự ý rời phòng thi đấu, nói chuyện, trao đổi ý kiến với người khác. Khi cần thiết phải rời phòng đấu, đấu thủ phải thông báo cho trọng tài biết và được sử đồng ý của trọng tài.

c) Không được sử dụng bất cứ sách báo, tài liệu hoặc công cụ gì để tham khảo hay phân tích ván cờ trong khi đang thi đấu.

d) Không được gây ồn ào hoặc làm các động tác gây ảnh hưởng không tốt đến tinh thần và sự tập trung tư tưởng của đối phương như: Đập mạnh quân cờ hoặc đập mạnh vào núm đồng hồ, làm cử chỉ khiêu khích hay bất lịch sự với đối thủ như: gõ tay lên mặt bàn, rung đùi, vỗ tay… Nếu làm hư hỏng, mất mát các dụng cụ, trang thiết bị thi đấu thì phải bồi thường.

e) Động tác đi quân phải dứt khoát, gọn ghẽ. Nhấc quân lên và đặt ngay quân vào vị trí mới rồi đưa tay nhanh ra khỏi bàn cờ. Không được phép cầm quân giữ lâu trên tay hay vừa cầm quân vừa huơ tay phía trên bàn cờ. Không được chỉ, gõ hay di tay trên mặt bàn cờ hay dùng tay chỉ để tính toán nước đi từ vị trí này tới vị trí kia trên mặt bàn cờ. Không được đẩy quân cờ qua lại trên mặt bàn cờ.

g) Không được tính toán bằng lời nước đi của mình hay bình luận nước đi của đối phương trong thời gian diễn ra ván đấu.

h) Quân bị nhấc ra khỏi bàn cờ phải để riêng ra một chỗ trên mặt bàn. Không được phép nắm giữ quân đã bị loại ra khỏi bàn cờ trong tay mình.

i) Không được phép nhận ám hiệu, tín hiệu mách nước từ người bên ngoài. Không được thông báo, trao đổi nước đi của mình cho người ngoài.

k) Đấu thủ muốn đề nghị hòa chủ được đưa ra lời đề nghị hòa khi tới lượt mình đi, tức là trong thời gian suy nghĩ của mình.

15.5. Huấn luyện viên, lãnh đội không được làm bất cứ điều gì gây ảnh hưởng xấu đến trận đấu như mách nước, làm ám hiệu, khiếu nại trực tiếp với trọng tài hay ban tổ chức, gây mất trật tự.

a) Việc thắc mắc và khiếu nại khi đang diễn ra ván đấu phải do bản thân đấu thủ đề xuất thì mới có giá trị. Trọng tài và ban tổ chức không xét các ý kiến thắc mắc, khiếu nại nếu không phải do đấu thủ đề xuất.

b) Trước khi thắc mắc hay khiếu nại, đấu thủ có quyền tham khảo ý kiến lãnh đội hay huấn luyện viên và có thể cùng huấn luyện viên hay lãnh đội làm văn bản gửi tổng trọng tài, ban tổ chức các thắc mắc và khiếu nại của mình.

c) Huấn luyện viên, lãnh đội, thân nhân của đấu thủ, khán giả… không được khiếu nại khi đang diễn ra ván cờ, tự tiện vào nơi thi đấu để khiếu nại, nhưng có quyền phát hiện những sai trái, tiêu cực… và cung cấp thông tin chính xác cho tổng trọng tài, ban tổ chức để có những quyết định đúng đắn, kịp thời.

d) Huấn luyện viên, lãnh đội được quyền thắc mắc, khiếu nại những vấn đề không thuộc phạm vi ván đấu như: kết quả bốc thăm, kết quả toàn bộ của giải,… với thái đội xây dựng, lịch sự với trọng tài và ban tổ chức.

15.6. Khi đấu thủ nhận thấy thắc mắc, khiếu nại của mình chưa được trọng tài bàn giải quyết thỏa đáng thì được phép gặp trực tiếp tổng trọng tài hay ban tổ chức để trình bày. Nếu vẫn chưa thỏa mãn thì vẫn phải chấp hành sự phán quyết của tổng trọng tài hay ban tổ chức, nhưng sau ván đấu được phép khiếu nại bằng văn bản.

15.7. Nếu đang thi đấu có vấn đề tranh chấp thì hai đấu thủ không được to tiếng đấu khẩu, mà phải bình tĩnh trình bày rõ sự việc để trọng tài nghe và quyết định.

a) Không được có lời nói , hành vi không tôn trọng trọng tài, đối thủ, khán giả, phản ứng không đúng mức đối với sự phán quyết của trọng tài, ban tổ chức, cãi cọ, làm ồn, mất trật tự trong khi thi đấu…

b) Trọng tài sẽ cảnh cáo khi xảy ra các vi phạm nói trên, được gọi là lỗi tác phong, trọng tài sẽ cảnh cáo, nếu tiếp tục tái phạm thì người vi phạm bị xử phạm lỗi tác phong, hoặc xử thua ván cờ. Nếu cả hai đấu thủ cùng vi phạm lỗi nặng thì có thể xử thua cờ cả hai đấu thủ đó.

Điều 16: XỬ LÝ CÁC VI PHẠM

16.1. Khi đấu thủ vi phạm các luật lệ và quy định, ban trọng tài tùy mức độ vi phạm để quyết định xử lý theo các mức sau:

a) Nhắc nhở

b) Cảnh cáo

c) Xử thua ván cờ

d) Truất quyền thi đấu

e) Xóa tên đấu thủ khỏi danh sách của giải cờ.

16.2. Trọng tài bàn được quyền cảnh cáo, nhắc nhở và xử phạt đúng theo luật.

Tổng trọng tài có quyền truất quyền thi đấu.

Xóa tên trong danh sách và kết quả thi đấu phải qua ý kiến của tổng trọng tài, trưởng ban tổ chức của giải. Ban tổ chức giải phải tuyên bố hình thức kỷ luật này bằng văn bản.

16.3. Các trường hợp phạm lỗi kỹ thuật

a) Các trường hợp phạm lỗi kỹ thuật thường thấy gồm:

– Đi quân sai luật định.

– Chạm quân mà không đi được quân nào.

– Nêu ý kiến hay vấn đề khi đang đến lượt đối phương đi.

– Ghi biên bản sót 4 nước liên tục (một lần phạm lỗi kỹ thuật).

– Kết thúc ván cờ không ghi bổ sung các nước còn thiếu.

– Vi phạm các quy định khác về mặt kỹ thuật.

b)  Khi đấu thủ phạm lỗi kỹ thuật, trọng tài phải tuyên bố rõ lý do và mức phạt cho đấu thủ đó biết.

Chương 4:

TỔ CHỨC THI ĐẤU

Điều 17: CÁC HÌNH THỨC THI ĐẤU

17.1. Phương thức thi đấu một ván cờ là đối kháng giữa hai cá nhân.

Trận đấu là cuộc thi đấu giữa hai cá nhân gồm nhiều ván.

Giải đấu là hình thức tổ chức thi đấu gồm nhiều đấu thủ tham dự. Giải đấu gồm các thể thức là giải cá nhân và giải đồng đội.

17.2. Tên các giải đấu bao gồm: Giải hạng nhất toàn quốc, giải đồng đội toàn quốc, giải trẻ toàn quốc, giải hữu nghị, giải tuyển chọn, giải mời, giải khu vực, giải quốc tế…

17.3. Hình thức thi đấu gồm: Đấu loại, đấu vòng tròn, đấu theo hệ Thụy Sĩ, đấu hỗn hợp… (xem chương VI)

Điều 18: ĐIỀU LỆ GIẢI ĐẤU

a)   Đơn vị tổ chức giải phải ban hành và công bố điều lệ giải trước khi tiến hành giải.

b)  Điều lệ giải bao gồm: Tên giải, mục đích, tên đơn vị đăng cai, tiền lệ phí, chương trình và địa điểm thi đấu, thể thức thi đấu, thời gian quy định cho ván đấu, tiêu chuẩn tính thành tích, các đặc cách (nếu có), các tài trợ cho giải (nếu có), luật lệ áp dụng trong giải và hình thức khen thưởng, kỷ luật…

Điều 19: BAN TỔ CHỨC

19.1. Đơn vị đứng ra tổ chức giải phải lập Ban tổ chức để điều hành cuộc thi đấu, giải quyết mọi vấn đề vượt quá quyền hạn của ban trọng tài, xử lý các vi phạm của trọng tài, thay đổi bổ sung điều lệ giải nếu xét thấy cần thiết.

19.2. Trong những giải lớn nhiều vận động viên tham gia, nếu cần thiết thì thành lập ban giải quyết khiếu nại, ban kiểm tra tư cách đấu thủ

19.3. Ban tổ  chức phải có biện pháp đảm bảo sự an toàn về mọi phương diện trong quá trình tiến hành giải đấu, đảm bảo sự yên tĩnh và điều kiện thuận tiện nhất để các đấu thủ tập trung tư tưởng thi đấu và có các biện pháp dự phòng những sự cố bất lợi có thể xảy ra.

19.4. Mỗi một giải đều phải có lễ khai mạc, bế mạc và tùy tình hình cụ thể để làm giản đơn gọn nhẹ hay long trọng và quy mô. Tại lễ bế mạc phải công bố đầy đủ kết quả thi đấu và khen thưởng, mức thưởng cũng như các văn bản khác như danh sách được phong cấp, danh sách vận động viên được tuyển chọn lên các giải cao hơn…

19.5. Quản lý giải đấu theo đúng luật đã được ban hành. Không được đưa vào điều lệ giải các quy định, quy tắc, điều khoản trái với Luật cờ chữ Việt này.

Điều 20: BAN TRỌNG TÀI

20.1. Ban trọng tài do cấp có thẩm quyền (hoặc ban tổ chức) thành lập tùy theo quy mô của giải, gồm: Tổng trọng tài, một hoặc nhiều phó tổng trọng tài, một thư ký trọng tài và các trọng tài bàn. Ban trọng tài phụ trách điều hành công tác thi đấu.

20.2. Tổng trọng tài là:người am hiểu và có kinh nghiệm về công tác trọng tài, đủ tư cách, nắm vững luật cờ, đủ trình độ năng lực chuyên môn điều hành giải.

20.3. Chức trách của tổng trọng tài:

a) Đại diện thường trực của ban tổ chức điều hành toàn diện quá trình thi đấu giải.

b) Phân công trọng tài cho các trận đấu.

c) Nắm vững điều lệ thi đấu và có khả năng giải thích bất cứ điều luật nào cho đấu thủ thông hiểu và chấp hành. Khi có vấn đề phát sinh thì căn cứ vào luật, điều lệ giải để xử lý và quyết định kể cả những vấn đề mà luật và điều lệ chưa quy định chi tiết. Khi gặp trường hợp phức tạp liên quan tới nhiều bên thì tổng trọng tài báo cáo ban tổ chức để cùng giải quyết.

d) Khi thi đấu giải, do nguyên nhân đặc biệt không thể thi đấu được thì tổng trọng tài có quyền tuyên bố tạm đình chỉ giải đấu và định lại thời gian, địa điểm để tiếp tục giải đấu.

e) Giải quyết những thắc mắc kiến nghị và khi cần thiết triệu tập Hội nghị các lãnh đội hoặc với các ban được lập ra để giải quyết kịp thời các vấn đề trên.

g) Đình chỉ công tác của các trọng tài không làm tròn nhiệm vụ, mắc sai lầm nghiêm trọng và thay bằng trọng tài khác.

h) Giữ vững kỷ cương và đảm bảo điều kiện thuận lợi cho giải. Nếu có đấu thủ hoặc đội cờ vi phạm nghiêm trọng luật thì tổng trọng tài có quyền tước bỏ tư cách thi đấu.

i) Phụ trách việc thu nhận biên bản và phân công thư ký ghi điểm của các đấu thủ, thực hiện bắt thăm, lập các bảng điểm, tổng hợp kết quả.

k) Quyết định thưởng phạt theo quy định của điều lệ.

l) Hoàn tất mọi văn bản và báo cáo quy định gửi cho ban tổ chức giải và công bố kết quả khi bế mạc giải.

m) Phán quyết của tổng trọng tài về các vấn đề chuyên môn và kỹ thuật là phán quyết cuối cùng. Phán quyết của ban tổ chức về các vấn đề khác là phán quyết cuối cùng.

20.3. Chức trách của phó tổng trọng tài

Giúp tổng trọng tài điều hành giải. Khi tổng trọng tài vắng mặt thì phó tổng trọng tài thay thế điều hành thi đấu.

20.4. Chức năng và nhiệm vụ của trọng tài bàn:

a) Trọng tài bàn là người trực tiếp điều hành công tác thi đấu và xử lý mọi tình huống xảy ra, là người đảm bảo cho luật lệ được tôn trọng và giải đấu thành công. Trọng tài bàn phải có các điều kiện cơ bản:

a.1) Biết chơi cờ và nắm vững luật cờ, phải được đào tạo về công tác trọng tài hay được tập huấn về luật cờ.

a.2) Có đạo đức, tác phong, tư cách tốt, khách quan, vô tư, trung thực và công bằng trong khi thi hành nhiệm vụ của mình. Phải lắng nghe thấu đáo mọi ý kiến của đấu thủ, nói năng ôn tồn, lịch sự, nhã nhặn và giải quyết mọi vấn đề phát sinh theo đúng luật.

b) Nhiệm vụ của trọng tài bàn:

b.1) Theo dõi chặt chẽ việc tuân thủ luật cờ chữ Việt, duy trì mọi điều kiện thuận lợi nhất để đấu thủ tập trung thi đấu.

b.2) Phải luôn luôn có mặt tại khu vực được giao trong suốt quá trình thi đấu. Trước khi bắt đầu ván đấu phải kiểm tra vị trí các quân cờ, màu quân của cá bên, đồng hồ và phát biên bản cho các đấu thủ.

b.3) Giám sát chặt chẽ tiến trình của các ván đấu, đặc biệt khi các đấu thủ còn ít thời gian, xác định mức phạt đúng luật cho đấu thủ phạm lỗi.

b.4) Khi thời gian của đấu thủ còn ít hơn 5 phút không phải ghi biên bản thì trọng tài ghi biên bản thay cho đấu thủ đó.

b.5) Khi phát sinh tình huống vượt khỏi khả năng xét đoán của mình thì trọng tài bàn phải báo cáo ngay cho tổng trọng tài biết để có phương hướng xử lý và giải quyết kịp thời.

b.6) Trọng tài là người ký vào biên bản xác nhận kết quả ván đấu và giao đầy đủ biên bản cho thư ký trọng tài.

b.7) Để đảm bảo cho môi trường thi đấu lành mạnh, trọng tài phải chú ý người vào xem thi đấu. Trường hợp người xem làm mất trật tự hay gây ảnh hưởng không tốt tới đấu thủ hay can thiệp vào ván đấu trọng tài sẽ nhắc nhở. Nếu cần thiết, trọng tài mời người vi phạm ra khỏi khu vực thi đấu.

b.8) Trọng tài chỉ nhận ý kiến thắc mắc hay khiếu nại của đấu thủ mà không nhận của bất kỳ ai khác.

b.9) Tùy mức độ vi phạm nặng nhẹ, trọng tài xử lý theo các mức: nhắc nhở, cảnh cáo, ghi lỗi kỹ thuật và lỗi tác phong, xử thua ván cờ khi phạm 3 lỗi kỹ thuật hay 3 lỗi tác phong: nếu nghiêm trọng hơn thì phải báo cáo với tổng trọng tài để xử lý ở mức nặng hơn.

Nghiêm cấm trọng tài:

a)      Thiên vị với đấu thủ (nhất là đấu thủ của địa phương mình, đơn vị mình) hay tham gia vào các vụ việc: mách nước, chuyển tài liệu hay nước đi cho đấu thủ, làm trung gian trong việc mua bán điểm, dàn xếp tỷ số,… cũng như các vụ việc tiêu cực khác.

b)      Phân biệt, định kiến, gây ảnh hưởng bất lợi cho đấu thủ, cố tình bắt các lỗi không đáng bắt, gây căng thẳng trong giải đấu, đứng quá gần đấu thủ.

Tổng trọng tài và ban tổ chức sẽ nhắc nhở, cảnh cáo, truất quyền trọng tài tại giải hay đình chỉ công tác trọng tài trong một khoảng thời gian thích đáng đối với trọng tài vi phạm vào các điều kiện trên theo từng mức độ.

Nếu phát hiện năng lực chuyên môn của trọng tài yếu kém, không nắm vững luật, khi bắt lỗi có nhiều sai sót thì tổng trọng tài hay ban tổ chức phải nhanh chóng điều động trọng tài khác thay thế để đảm bảo sự thành công của giải cờ.

Điều 21: CÁCH TÍNH THÀNH TÍCH

21.1. Cách tính điểm thống nhất của hệ thống thi đấu trên phạm vi toàn quốc tại tất cả các giải cờ là: Thắng được 1 điểm, hòa được nửa điểm và thua được 0 điểm.

21.2 Trường hợp đặc biệt thi đấu một trận gồm 2 ván thì: Mỗi ván thắng được 2 điểm, hòa được 1 điểm, thua 0 điểm và gọi đó là “điểm ván”. Mỗi trận đấu (gồm cả hai ván) bên thắng được ghi 1 điểm (dù thắng 2 ván hoặc thắng 1 hòa 1); hòa nửa điểm; thua 0 điểm, đây là điểm trận. Khi tính thành tích xếp hạng trước hết phải căn cứ vào điểm trận, ai nhiều điểm hơn được xếp trên. Nếu điểm trận bằng nhau thì căn cứ vào điểm ván để xếp hạng, ai có tổng điểm ván cao hơn sẽ được xếp trên. Nếu điểm ván bằng nhau thì căn cứ vào tổng số quân ăn được để xếp hạng, ai có tổng số quân ăn được nhiều hơn sẽ được xếp trên. Nếu một đấu thủ vắng mặt thì đối phương có mặt thắng cuộc được 1 điểm và 4 điểm ván.

21.3. Thể thức đấu vòng tròn:

Xếp thứ hạng theo tổng số điểm của các đấu thủ. Nếu tổng số điểm bằng nhau thì căn cứ vào ván cờ đối kháng giữa các đấu thủ bằng điểm, ai thắng xếp trên. Nếu vẫn bằng nhau thì tính đến hệ số của đấu thủ, ai có hệ số cao hơn được xếp trên. Tính hệ số của từng đấu thủ như sau: Cộng tổng số điểm của các đối phương mà đấu thủ đó thắng, nửa tổng số điểm của đối phương mà đấu thủ hòa. Nếu vẫn bằng nhau thì lấy số ván thắng bằng quân Thụ động, ai được nhiều hơn thì xếp trên. Nếu vẫn bằng nhau thì tính tổng số quân ăn được để xếp hạng. Nếu vẫn bằng nhau thì sẽ bốc thăm may rủi để xếp hạng (Điều lệ giải có quyền quy định cụ thể xét yếu tố nào trước, yếu tố nào sau).

21.4. Thể thức thi đấu theo hệ Thụy Sĩ:

Xếp thứ hạng theo tổng điểm. Nếu bằng nhau thì tính đến hệ số của đấu thủ, ai có hệ số cao hơn được xếp trên (xem phần thể thức thi đấu ở chương 6)

21.5. Bỏ cuộc và xếp thứ hạng

21.5.1. Thể thức đấu vòng tròn; Nếu một đấu thủ chỉ chơi nửa số trận đấu trở xuống rồi bỏ cuộc (như 8 trận chỉ chơi 4 trận) thì hủy bỏ tất cả các trận đã đấu cũng như các điểm của các đối phương đã đạt được. Trên bảng điểm đánh dấu chéo (X) để biểu thị những ván đánh với người bỏ cuộc.

Trường hợp đã đấu được quá nửa số trận rồi mới bỏ cuộc thì các kết quả đá đấu vẫn giữ nguyên. Các trận chưa đấu thì tính cho đối phương thắng cuộc.

21.5.2. Thể thức đấu theo hệ Thụy Sĩ:

Nếu một đấu thủ giữa chừng bỏ cuộc, thì dù đấu thủ đã đấu được quá nửa hay chưa đều giữ nguyên kết quả đã chơi. Ai bốc thăm gặp tiếp đấu thủ bỏ cuộc được xử thắng. Trên bảng điểm ghi “O” cho người bỏ cuộc và ghi “X” cho người thắng đối phương bỏ cuộc.